Cây Ngải Tiên, hiểu biết để tránh nhầm lẫn.

Đôi khi chỉ là một khác biệt nhỏ về hình dạng, hoa, lá hay rễ cũng đều phân biệt là các loại cây khác nhau. Nhiều người nhầm lẫn cây Ngải tiên với các loại cây thuộc họ Gừng khác và nhận định Ngải tiên không có tác dụng với các bệnh đại tràng.

ngải tiên 1

Đặc điểm cây:

Cây Ngải tiên hay Bạch yến, Bạch điệp, Garlannt flower, White hedychium, có tên khoa học là Hedychium coronarium Koenig, thuộc họ Gừng Zingiberaceae. Cây mọc tự nhiên ở một số vùng núi có độ cao 1400-1800m. Ngày nay cây được trồng ở nhiều nơi trên thế giới với mục đích làm cảnh và lấy tinh dầu, thân rễ để làm nước hoa và làm thuốc. Ở Việt Nam cây phân bố tự nhiên ở một số tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang.

ngải tiên 2

Hình: Đặc điểm một số bộ phận cây Ngải tiên.

Thân rễ mập, ít phân nhánh, thân nhẵn, giống cây giềng, gừng, lá mọc so le, không cuống, hoa mọc ở ngọn thân, quả khi chin màu vàng, hạt màu đỏ.

Xem thêm: Tọa đàm giá trị của cây ngải tiên đối với cộng đồng!

Công dụng:

Thân rễ và quả của Ngải tiên có vị cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng khu phong trừ thấp, ôn trung tán hàn. Tinh dầu gây trung tiện.

Thân rễ và quả dùng chữa đau bụng lạnh, bụng đầy chướng, tiêu hóa kém. Thân rễ sắc lấy nước súc miệng chữa hôi miệng, uống để chữa cảm sốt, đau mình mẩy, phong thấp, nhức mỏi gân xương. Dùng ngoài thì lấy thân rễ tươi giã nát, uống nước, bã đắp chữa rắn cắn, đòn ngã tổn thương. Thân cây thái nhỉ, sắc, ngâm chữa viêm lợi, viêm amidan.

Hoa có thể dùng để ăn. Tinh dầu hoa là một loại hương liệu cao cấp. Trên thế giới, nhiều nước cũng sử dụng thân rễ ngải tiên chữa một số bệnh thông thường như: ở Hawaii dùng làm thuốc trị thối mũi, ở Ấn Độ dùng rễ cây tán bột làm thuốc hạ nhiệt và trị tê thấp; ở Mooluyc, Indonexia dùng nấu nước súc miệng, tinh dầu thân rễ trị giun; ở Vân Nam, Trung Quốc dùng chữa đòn ngã tổn thương, phong thấp, cảm mạo, bạch đới nóng lạnh. Quả dùng trị đầy trướng bụng, ăn uống không tiêu.

Bài thuốc cây Ngải tiên:

Chữa sốt: thân rễ cây, hành, thìa là (liều lượng bằng nhau) dùng tươi, giã nát, đắp.

Chữa đau bụng lạnh, đầy trướng, tiêu hóa kém: thân rễ khô hoặc quả sắc lấy nước hoặc tán bột uống.

Chữa đau mình mẩy, phong thấp, nhức mỏi xương: thân rễ sắc lấy nước hoặc tán bột uống.

Chữa hôi miệng, viêm lợi, viêm amidan: thân rễ thái nhỏ, sắc lấy nước súc miệng hàng ngày.

Chữa đòn ngã tổn thương, rắn cắn: thân rễ giã tươi lấy nước uống, bã đắp lên vết thương, đắp lên chỗ rắn cắn sau khi đã sơ cứu.

Kể từ thời xa xưa, Ngải tiên đã được sử dụng trong y học cổ truyền để chữa nhiều bệnh lý khác nhau; các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã cho thấy trong các chiết xuất của các bộ phận khác nhau của cây có sự hiện diện của các hợp chất có hoạt tính sinh học với các thuốc giảm đau, chống dị ứng, chống viêm, chống lão hoá và chống viêm gan.

Giá trị làm thuốc của cây Ngải tiên đã có một số công trình ghi nhận.

Xem thêm: Ngải tiên – thuốc quý cho người bị viêm đại tràng

Câu Chuyện Khách Hàng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *